Vị trí, điều kiện tự nhiên

content:

Huyện Nam Đàn nằm ở vị trí có tọa độ địa lý: Từ 18°30’ đến 18°47’ vĩ độ Bắc và từ 105°24’ đến 105°37’ kinh độ Đông. Phía bắc giáp huyện Đô Lương và một phần của huyện Nghi Lộc; phía Nam giáp huyện Hương Sơn và huyện Đức Thọ của tỉnh Hà Tĩnh; Phía đông giáp huyện Hưng Nguyên và một phần huyện Nghi Lộc; Phía tây giáp huyện Thanh Chương.

Diện tích tự nhiên là 29.389 ha. Trong đó đất nông nghiệp chiếm 11.521ha, bằng 40%. Huyện lỵ Nam Đàn đặt tại thị trấn Nam Đàn trên đường Quốc lộ 46 Vinh – Đô Lương, cách thành phố Vinh 21 km về phía tây. Trên địa bàn Nam Đàn có các đường giao thông lớn chạy qua như: Quốc lộ 46, Quốc lộ 46B, Quốc lộ 15, Tỉnh lộ 539, 540, 539B, 539C, 542D và đường vành đai phía Bắc từ mộ Bà Hoàng Thị Loan đi chùa Đại Tuệ nối với Cầu Đòn.

Khí hậu Nam Đàn cũng như địa bàn Xứ Nghệ, Nam Đàn nằm trong vùng nhiệt đới ẩm gió mùa chịu ảnh hưởng của nhiều hệ thống thời tiết. Hàng năm mùa hanh khô kéo dài từ tháng 1 đến tháng 3 dương lịch, mùa nóng từ tháng 4 đến tháng 8, số giờ nắng trung bình năm là 1637 giờ, mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 12. Lượng mưa hàng năm cao nhất là 2,228 mm, thấp nhất là 1,402 mm, trung bình là 1,428 mm. Bão lụt thường xảy ra vào tháng 9 và tháng 10 dương lịch, gây úng, lũ lụt trên diện tích rộng, có lúc kéo dài trong một thời gian dài.

Thời tiết và khí hậu của huyện Nam Đàn đã được miêu tả tóm tắt trong 4 câu thơ chữ Hán sau đây của Hoàng giáp Bùi Huy Bích (1744 – 1818) ghi trong Nghệ An thi tập của ông khi ông làm Đốc đồng trấn Nghệ An (1777 – 1781) dưới thời vua Lê Hiển Tông:

Hạ lai phong tự hỏa

Thu khứ vũ như ma

Thập nguyệt giang hoàn lạo

Trùng cửu cúc vị hoa

Dịch thơ:

Hè đến gió Lào như lửa đốt

Thu qua mưa phùn lấm tấm sa

Tháng mười sông còn tràn nước lũ

Mồng 9 tháng 9 cúc chưa nở hoa

          Tài nguyên đất: Theo số liệu thống kê tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2019, tổng diện tích tự nhiên của Nam Đàn là 29.389,98ha, được cơ cấu sử dụng đất trong như sau:

          - Đất nông nghiệp:       22.364,27 ha

          - Đất phi nông nghiệp:    6161,26 ha

          - Đất chưa sử dụng:           673,39 ha

          Nhìn chung đất đai ở Nam Đàn có thể chia làm hai nhóm: Thủy thành và địa thành.

          - Nhóm thủy thành: chiếm khoảng 40% diện tích đây là nhóm đất có ý nghĩa quan trọng trong diện tích thổ nhưỡng ở Nam Đàn. Nó có 3 nhóm nhỏ là đất phù sa, đất nâu vàng và đất lúa vùng đồi núi, trong đó đáng kể nhất là đất phù sa. Các xã có diện tích đất phù sa lớn là các xã dọc ven sông Lam như: Thượng Tân Lộc, Trung Phúc Cường, Khánh Sơn, Hồng Long, Hùng Tiến, Xuân Lâm.

          - Nhóm đất địa thành: Chiếm khoảng 60% diện tích. Đất này tập trung ở vùng đồi núi tại các xã: Nam Hưng, Nam Nghĩa, Nam Thái, Nam Thanh, Nam Anh, Nam Xuân, Nam Lĩnh một phần diện tích của Khánh Sơn, Nam Kim, Nam Giang, Thị trấn. Nó có các nhóm nhỏ như: đất pheralit đỏ vàng, đất xói mòn trơ sỏi đá, đất màu vàng trên núi thích hợp với trồng cây ăn quả, cây chè...

          Tài nguyên rừng: Đất rừng ở Nam Đàn có 6471,35ha, chiếm trên 20% diện tích đất tự nhiên của Nam Đàn. Rừng tự nhiên của Nam Đàn thuộc kiểu rừng á kim nhiệt đới, rừng hỗn giao lá kim, lá rộng...Trước đây rừng ở Thiên Nhẫn, Đại Huệ, Đụn Sơn có nhiều loại gỗ quý như: Lim, sến, táu, vàng tâm, săng lẻ, dổi...và các loại lâm sản khác như: tre, song, mây, lá tro để làm nón làm tơi cùng các cây dược liệu quý. Rừng ở Nam Đàn cũng có thể trồng rẫy, trồng nhiều loại cây ăn quả khác nhau. Thú rừng trước đây có hàng trăm loài, hàng chục họ, bộ. Có cả thú lớn như hổ, báo, nai, hươu và các loài thú thường gặp như chồn, cáo, khỉ, cũng như các loài bò sát, chim...Nhưng nay gỗ quý, thú lớn không còn mà chủ yếu là thông, chàm, bạch đàn, còn một số loài thú như mang (hoẵng), chồn, cáo, một số loài bò sát...

          - Tài nguyên khoáng sản: Nam Đàn không giàu về khoáng sản và không có các mỏ lớn mà chỉ có một số khoáng sản như: đá, cát, sỏi, đất sét làm vật liệu xây dựng…  

Dân số của huyện Nam Đàn tính đến ngày 30 tháng 12 năm 2019 là 164.530 người. 9% dân số theo đạo Thiên Chúa.